Chung tuyển dụng nhiều người Việt Nam, phân công nhiệm vụ chặt chẽ, sử dụng các website giả mạo Nasdaq, lập nhóm Zalo, Telegram với hàng chục tài khoản ảo “acc quẫy”, dựng kịch bản “báo lãi”, giả danh chuyên gia đầu tư để dẫn dụ bị hại nạp tiền.
Theo báo Pháp luật TP.HCM, ngày 17/1, Công an TP Đà Nẵng cho biết, Văn phòng Cơ quan CSĐT vừa bắt tạm giam 7 bị can để điều tra về hành vi sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản.
Các bị can gồm: Nguyễn Văn Chung (42 tuổi, ngụ, phường Tân An), Nguyễn Đức Long (26 tuổi, phường Yên Dũng), Ong Khắc Minh (26 tuổi, ngụ phường Yên Dũng), Cao Bá Nam Việt (35 tuổi, ngụ phường Xuân An), Vũ Trí Huy (31 tuổi, ngụ phường Tân An); Nguyễn Anh Đô (27 tuổi, ngụ phường Tân Mỹ, cùng tỉnh Bắc Ninh) và Tạ Văn Bá (37 tuổi, ngụ phường Đức Thịnh, tỉnh Bắc Giang).

Nhóm người lừa đầu tư tiền ảo giả mạo sàn Nasdaq bị bắt. Ảnh: VTC News
Trước đó, ngày 12/1, Văn phòng Cơ quan CSĐT Công an TP Đà Nẵng tiếp nhận, xác minh nguồn tin tội phạm theo đơn tố giác của bà P.T.T (36 tuổi, ngụ phường An Khê, TP Đà Nẵng) và một số người phản ánh việc bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản thông qua hình thức kêu gọi đầu tư tiền ảo trên sàn giao dịch giả mạo mang tên Nasdaq.
Theo VTC News, kết quả điều tra ban đầu xác định: Từ đầu năm 2024, Nguyễn Văn Chung sang Campuchia, móc nối với đối tượng người Trung Quốc tên A Long, tổ chức hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại khu Kim Sa 3, Bavet (Campuchia).
Chung tuyển dụng nhiều người Việt Nam, phân công nhiệm vụ chặt chẽ, sử dụng các website giả mạo Nasdaq, lập nhóm Zalo, Telegram với hàng chục tài khoản ảo “acc quẫy”, dựng kịch bản “báo lãi”, giả danh chuyên gia đầu tư để dẫn dụ bị hại nạp tiền.
Sau khi chiếm đoạt, nhóm này tổ chức luân chuyển dòng tiền qua nhiều tài khoản ngân hàng, quy đổi sang tiền ảo nhằm che giấu nguồn gốc, tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng.
Với thủ đoạn nêu trên, bước đầu Cơ quan CSĐT xác định các đối tượng đã chiếm đoạt tổng số tiền ước tính ban đầu khoảng 14 tỷ đồng.
Quá trình đấu tranh, Cơ quan CSĐT Công an TP Đà Nẵng đã khám xét khẩn cấp, thu giữ nhiều tang vật, tài liệu liên quan, gồm: 1 USB chứa kịch bản lừa đảo; nhiều điện thoại di động, máy tính bảng, máy tính xách tay; hơn 5,2 tỷ đồng tiền mặt; hàng trăm tờ ngoại tệ; hàng chục vòng kim loại màu vàng; 6 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cùng nhiều tài liệu, dữ liệu điện tử phục vụ công tác điều tra.
Theo quy định tại Điều 290 Bộ Luật hình sự 2015 (có hiệu lực ngày 01/01/2018) thì:
1. Người nào sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử thực hiện một trong những hành vi sau đây, nếu không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 173 và Điều 174 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Sử dụng thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của cơ quan, tổ chức, cá nhân để chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản, chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ;
b) Làm, tàng trữ, mua bán, sử dụng, lưu hành thẻ ngân hàng giả nhằm chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản, chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ;
c) Truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản;
d) Lừa đảo trong thương mại điện tử, thanh toán điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn, kinh doanh đa cấp hoặc giao dịch chứng khoán qua mạng nhằm chiếm đoạt tài sản;
đ) Thiết lập, cung cấp trái phép dịch vụ viễn thông, internet nhằm chiếm đoạt tài sản.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Phạm tội 02 lần trở lên;
c) Có tính chất chuyên nghiệp;
d) Số lượng thẻ giả từ 50 thẻ đến dưới 200 thẻ;
đ) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
e) Gây thiệt hại từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng;
g) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
b) Gây thiệt hại từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
c) Số lượng thẻ giả từ 200 thẻ đến dưới 500 thẻ.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Gây thiệt hại 500.000.000 đồng trở lên;
c) Số lượng thẻ giả 500 thẻ trở lên.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Dấu hiệu pháp lý của tội danh này là:
Thứ nhất, khách thể: Tội phạm này xâm phạm đến trật tự quản lý nhà nước trong lĩnh vực an ninh mạng viễn thông, đồng thời xâm phạm quyền sở hữu tài sản của tổ chức, cá nhân.
Thứ hai, chủ thể: Chủ thể của tội danh này là chủ thể thường, là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt tuổi luật định.
Thứ ba, mặt khách quan: Thực hiện hành vi sử dụng mạng viễn thông để chiếm đoạt tài sản của tổ chức, cá nhân. Cụ thể là:
– Sử dụng thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của cơ quan, tổ chức, cá nhân để chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản, chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ;
– Làm, tàng trữ, mua bán, sử dụng, lưu hành thẻ ngân hàng giả nhằm chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản, chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ;
– Truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản;
– Lừa đảo trong thương mại điện tử, thanh toán điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn, kinh doanh đa cấp hoặc giao dịch chứng khoán qua mạng nhằm chiếm đoạt tài sản;
– Thiết lập, cung cấp trái phép dịch vụ viễn thông, internet nhằm chiếm đoạt tài sản.
Thứ tư, mặt chủ quan: Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản.
Hình phạt áp dụng đối với tội danh này là:
Đối với trường hợp thuộc cấu thành cơ bản: Người phạm tội có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Đối với trường hợp thuộc cấu thành tăng nặng: Người phạm tội có thể bị bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm (Khoản 2) hoặc bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm (Khoản 3) hoặc phạt tù từ 12 năm đến 20 năm (Khoản 4). Ngoài ra, người phạm tội còn bị áp dụng các hình phạt bổ sung được quy định tại Khoản 5.
Tố Uyên (T/h)